Đường lối và quá trình xây dựng CNXH trên miền Bắc với tư cách là hậu phương lớn

Chuyên mục 'Lịch sử đảng' bởi chatlove, 18 Tháng tư 2012.

  1. Đường lối và quá trình xây dựng CNXH trên miền Bắc với tư cách là hậu phương lớn

    Trong chiến tranh, bên nào có sức mạnh áp đảo thì bên đó giành thắng lợi, muốn có sức mạnh thì ngoài yếu tố binh khí, kĩ thuật, tư tưởng, con người…còn phải kể tới một nhân tố hết sức quan trọng là hậu phương của cuộc chiến tranh. Sự chi viện của cuộc chiến tranh cho tiền tuyến là một yếu tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, vì hậu phương là nơi xây dựng và dự trữ tiềm lực của chiến tranh cả về mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa và khoa hoc kĩ thuật, là nơi chi viện nhân lực, vật lực, là chỗ dựa tinh thần cho tiền tuyến. Muốn đánh thắng địch ở tiền tuyến thì phải có hậu phương vững mạnh về mọi mặt.

    Dân tộc ta thắng những kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần bởi vì chúng ta có nhân dân anh hùng, có sự lao động tài năng, sáng tạo và trí tuệ của Đảng, có hậu phương lớn tập trung sức người, sức của, động viên tinh thần tiền tuyến lớn đánh thắng kẻ thù…

    I. Vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh.

    Hậu phương hiểu theo nghĩa hẹp: “ là nơi đối xứng với tiền tuyến, có sự phân biệt rạch ròi trong yếu tố không gian, là lãnh thổ ngoài vùng chiến sự,phía sau chiến tuyến, có dân cư và tiềm lực mọi mặt, nhất là nhân lực và vật lực. Là nơi xây dựng và huy động sức người sức của, đáp ứng nhu cầu của lực lượng vũ trang ngoài tiền tuyến.{14.Tr 231}.
    Theo nghĩa rộng đây là chỗ dựa để tiến hành chiến tranh, nơi cung cấp sức người,sức của cho chiến tranh, không phân biệt rạch ròi với tiền tuyến về mặt không gian.

    Như vậy, có thể thấy ngay rằng trong các cuộc chiến tranh, hậu phương là một trong những điều kiện cơ bản quyết định thắng bại, được thua của hai bên tham chiến. Chiến tranh phải dự vào hậu phương hùng mạnh. Quân đội nào tách khỏi hậu phương thì không thể giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh, không thể tồn tại được. Trong lịch sử quân sự các nhà quân sự lỗi lạc và những người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản- Mác, Ăng ghen, Lê –nin đếu nhăc đến vai trò của hậu phương vững chắc,có tổ chức. Ăng ghen đã viết: “ Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội và do đó thắng lợi, thất bại đểu tỏ ra là phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vào chất lượng của con người, và của vũ khí, nghĩa là vào chất lượng và số lượng của cu dân và kĩ thuật”.

    Còn Lê- nin thì cho rằng: “Trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, thì người đó thu được thắng lợi.{1.Tr 84}.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng: “Khi có chiến tranh phải huy động và tổ chức tất cả các lực lượng trong nước để chống giặc.{4.Tr 474}.

    Nhìn chung, vai trò hậu phương được các nhà chiến lược, các nhà quân sự đánh giá cao và yêu cầu những người lãnh đạo quốc gia, những người cầm quân phải quan tâm thường xuyên trong thời chiến, cũng như trong thời bình. Bởi lẽ, chiến tranh là sự thử thách toàn diện đối với mỗi bên tham chiến, trong đó tất cả các lực lượng đều bị thử thách, bị tiêu hao, nên đòi hỏi phải đc bổ sung, phát triển, nhằm đè bẹp đối phương để chiến thắng.

    Nhận thức rõ được tầm quan trọng của hậu phương trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ, cùng với việc vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê-nin vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam, Đảng đã tập trung xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam. “ Tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc tức là xây dựng cuộc sống mới, tự do, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, đồng thời là củng cố miền Bắc thành cơ sở vững chắc thành mọi mặt cho việc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà”.


     
  2. chatlove

    chatlove Thành viên Vip

    Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương lớn miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ(1954-1965)

    II. Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương lớn miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ(1954-1965).
    1. Tình hình miền Bắc sau kháng chiến chống Pháp.

    Với âm mưu thâm độc, nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của phe xã hội chủ nghĩa xuống khu vực Đông Nam Á, trong hội nghị Giơnevơ, đế quốc Mĩ không kí vào Bản tuyên bố cuối cùng, nhanh chóng gạt pháp, âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ, chia cắt lâu dài đất nước ta. Sau cuộc kháng chiến 9 năm gian khổ, đất nước ta bị chia thành hai miền với hai chế độ chính chị đối lập. Sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước chưa hoàn thành, một chặng đường gian khổ còn ở trước mắt- chặng đường kháng chiến giải phóng miền Nam, hoàn thành thống nhất nước nhà.

    Miền Bắc đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. song hậu quả của chiến tranh hết sức nặng nề trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

    Năm 1954, tổng sản lượng công nghiệp chỉ chiếm 1.5% giá trị tổng sản lượng nông công nghiệp. Kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu, sang sản xuất nông nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn. Nông nghiệp vốn lạc hậu lại bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh. Ruộng đất bỏ hoang thì vô số.

    Có thể nói miền Bắc đang đứng trước khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua. Trong khi đó, ở miền Nam Mỹ đang dốc sức huy động phương tiện cho chiến tranh và thẳng tay đàn áp những chiến sĩ cách mạng.

    Đứng trước tình hình như thế, Đảng ta đã ra chủ trương miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa là hậu phương lớn cho miền nam ruột thịt. Để củng cố miền Bắc thành hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng(1960) đã tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc. Cách mạng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc gắn chặt với cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của cách mạng cả nước và sự nghiệp thống nhất nước nhà.

    Như vậy, việc củng cố, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam đã được Đảng ta xác định rõ rang. Miền Bắc xây dựng vững mạnh về mọi mặt, đững vững trước thử thách ác liệt của chiến tranh, đủ sức đánh phá hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Miền Bắc đã dốc vào chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữu nước toàn bộ sức mạnh vật chất, tinh thần, xứng đáng là pháo đài vô địch của chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vị trí quyết định nhất trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước

    2.Nhân dân miền Bắc thực hiện khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh (1954-1957)

    Sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc nước ta thì nhân dân miền Bắc thực hiện tiếp quản những vùng địch tạm chiếm do địch trao lại trước khi chúng rút quân tập kết vào Nam theo hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương. Ngày 10-10-1954 quân và dân ta tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Đến 16-5-1955 những đơn vịcuối cùng của quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Hải Phòng, miền Bắc nước tađược hoàn toàn giải phóng.

    Hậu quả của cuộc chiến tranh nhiều năm để lại cho miền Bắc nước ta hết sứcnặng nề, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn; ở thời kỳ hậu chiến kẻthù lại ra sức phá hoại trước khi chúng rút quân tập kết vào Nam, nhất là chúngđã gây ra vụ cưỡng ép đồng bào công giáo di cư vào Nam làm mất an ninh chính trị và trật tự xã hội ở trật tự xã hội ở miền Bắc. Trước tình hình đó Đảng vàNhà nước đã đề ra kế hoạch khôi phục kinh tế, hàn gắn những vết thương chiẽntranh, ổn định đời sống của nhân dân, đồng thời hoàn thành cải cách ruộng đấtở miền Bắc (1955-1957).

    Thực hiện nhiệm vụ nói trên nhân dân miền Bắc đã phát huy tinh thần cần cù lao động sáng tạo nhanh chóng hoàn thành kế hoạch khôi phục kinh tế ổn định đời sống. Năm 1957 miền Bắc đã khôi phục kinh tế ổn định đời sống. Năm 1957 miền Bắc đã khôi phục được 97 xí nghiệp lớn, các ngành thủ công nghiệp truyền thống như dệt vải, làm diêm, làm giấy, thuốc lá, xà phòng cũng đều được phụ chồi đi vào sản xuất. Trong những năm 1957 miền Bắc đạt hơn 3 triệu tấn lương thực (so với năm 1939 trước chiến tranh miền Bắc chỉ đạt hơn 2 triệu tấn ). Các ngành giao thông vận tải, thương nghiệp, văn hoá- giáo dục, y tế cũng đều được phục hồi đạt mức trước chiến tranh. Cùng với việc khôi phục nền kinh tế quốc dân, miền Bắc thực hiện cải cách ruộng đất(trong kháng chiến mới cải cách ruộng đất ở vùng tự do). Trải qua 5 đợt công tác miền Bắc đã hoàn thành thắng lợi cải cách ruộng đất: Tịch thu hơn 80 vạn ha ruộng đất của giai cấp địa chủ cùng với 10 vạn trâu bò, hơn hai triệu nông cụ chia cho 9 triệu nông dân miền Bắc thiếu ruộng. Cải cách ruộng đất thắng lợi có ý nghĩa lịch sử to lớn: Miền Bắc đã xoá bỏ được việc chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, giải phóng nông dân lao động khỏi ách áp bức bóc lột bởi giai cấp đó, thực hiện khẩu hiệu chiến lược “người cày có ruộng” mà đảng đề ra từ 1930. Cải cách ruộng đất được hoàn thành đã góp phần tăng cường củng cố khối liên minh công nông trong giai đoạn cách mạng mới, đồng thời tạo ra những điều kiện thuận lợi để đưa nông dân miền Bắc tiến lên xây dựng nông thôn mới.

    Tuy nhiên trong cải cách ruộng đất Đảng và Nhà nước ta cũng mắc một số sai lầm khuyết điểm trong việc quy thành phần địa chủ, phương pháp đấu tranh với địa chủ cũng sai và củng cố tổ chức ở nông thôn. Đảng và Nhà nước đã kịp thời phát hiện những sai lầm và khuyết điểm nói trên, đã tự phê bình rồi đề ra “chính sách sửa sai”. Mặc dù vậy, những sai lầm và khuyết điểm trên đã hạn chế thắng lợi của cách mạng miền Bắc.

    3. Miền Bắc thực hiện 3 năm cải tạo XHCN bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa quốc dân(1958-1960).

    Mặc dù miền Bắc đã hoàn thành khôi phục kinh tế và cải cách ruộng đất, nhưng nền kinh tế cá thể,nông nghiệp lạc hậu, đời sống của nhân dân miền Bắc chưa thật ổn định vững chắc. Muốn đưa nông dân miền Bắc tiến lên con đường làm ăn ấm no hạnh phúc thì không có con đường nào khác là miền Bắc phải đi vào đoàn kết sản xuất, hợp tác sản xuất, đồng thời bước đầu phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy Đảng và Nhà nước đã đề ra kế hoạch 3 năm cải tạo các thành phần kinh tế không xã hội chủ nghiã, đồng thời phát triển kinh tế, văn hóa.
    Thực hiện kế hoạch nói trên ở nông thôn miền Bắc đã diễn ra phong trào hợptác hoá nông nghiệp rất sôi nổi. Chỉ tính đẽn 1959 đã có 85% gia đình nông dânvới 76% diện tích đất đai toàn miền Bắc đi vào hợp tác hoá nông nghiệp.Còn ở thành thị thì công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh cũng được tiến hành bằng phương pháp hoà bình. Năm 1959 đã có 97% gia đình tư sản ở miền Bắc đi vào công tư hợp doanh. Thợ thủ công và những người buôn bán nhỏ cũng đi vào làm ăn hợp tác với 80%.

    Cùng với cải tạo, miền Bắc bước đầu phát triển kinh tế - văn hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Năm 1959 miền Bắc đã xây dựng được 1972 xí nghiệp quốc doanh do trung ương quản lý, 500 xí nghiệp quốc doanh do địa phương quản lý.Các ngành thủ công nghiệp cũng được Nhà nước khuyến khích sản xuất phát triển. Trong nông nghiệp phon trào hợp tác xã được củng cố về mặt quản lý, công tác thuỷ lợi ở nông thôn được xây dựng một số tiến bộ khoa học kỹ thuật bước đầu được áp dụng vào chăn nuôi và trồng trọt, vụ mùa 1959 miền Bắc bình quân đạt 24 tạ thóc / 1ha. Các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, văn hoá, giáo dục ,y tế cũng bước đầu được phát triển. Năm học 1958 –1959 tổng số học sinh phổ thông miền Bắc đã tăng lên 80% so với năm học 1956 -1957. Miền Bắc bước đã có 9 truờng đại học với hàng ngàn sinh viên chuyên khoa.

    Những kết quả nói trên tuy chỉ là bước đầu, nhưng có ý nghĩa to lớn. Miền Bắcbước đầu xoá bỏ được quan hệ sản xuất cũ bóc lột, xây dựng được một số cơsở sản xuất kinh tế quốc doanh làm nền tảng cho nền kinh tế quốc dân. Nhữngkết quả nói trên đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để miền Bắc tiến lên thựchiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ở giai đoạn sau.

    Tuy nhiên trong công cuộc cải tạo các thành phần kinh tế không xã hội chủ nghĩa miền Bắc cũng có một số sai lầm, khuyết điểm đó là không thực hiện đúng nguyên tắc hợp tác là “ tự nguyện,bình đẳng, cùng có lợi “, tốc độ đi quá nhanh và quy mô quá lớn, trong khi đó trình độ tổ chức và quản lý lại rất thấp kém dẫn tới tình trạng xuống cấp dần dần. Những sai lầm và khuyết điểm đó đã hạn chế sự phát triển của miền Bắc.

    4. Miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.(1961-1965)

    Tháng 9-1960 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III được triệu tập, Đại hội đã phântích đặc điểm của tình hình miền Bắc nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội, rồi đề rađường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đại hội còn thông qua kếhoạch 5 năm lần thứ nhất, nhiệm vụ của kế hoạch này là bước đầu xây dựng cơsở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội và từng bước cải thiện đời sống cho nhân dân.

    Thực hiện kế hoạch nói trên nhân dân miền Bắc đã dấy lên phong trào thi laođộng xã hội chủ nghĩa nhất là phong trào thi đua đạt danh hiệu “ tổ, đội lao độngxã hội chủ nghĩa “. Các phong trào thi đua ở miền Bắc là phong trào thi đua ĐạiPhong trong nông nghiệp, phong trào thi đua Duyên Hải trong công nghiệp, phong trào thi đua thành Công trong ngành thủ công nghiệp, phong trào thi đua Bắc Lý trong giáo dục.

    Kết quả cho đến 1964 khi Giôn – xơn bắt đầu đánh phá miền Bắc thì việc thực hiện kế hoạch 5 năm mới làm được 4 năm mặc dù vậy miền Bắc đã được mộtsố kết quả rất đáng phấn khởi: Miền Bắc đã xây dựng được một số ngành công nghiệp nặng, nhiều trung tâm công nghiệp đã ra đời, lực lượng kỹ sư và công nhân kỹ thuật được đào tạo nhanh, lực lượng khoa học kỹ thuật được phát triển,tốc độ bình quân trong công nghiệp là 20%, trong các ngành thủ công nghiệp thìtốc độ phát triển đạt 4,6%. Về nông nghiệp miền Bắc xây dựng được một sốnông trường quốc doanh và có phát huy tác dụng; hệ thống thuỷ lợi ở nông thônđược xây dựng bảo đảm tưới và tiêu nước cho hơn 70% diện tích gieo trồng;một số điểm cơ khí nhỏ ở nông thôn đã bắt đầu hoạt động. Năm 1964 miền Bắcđạt hơn 6 triệu tấn lương thực. Các ngành giao thông vận tải, thương nghiệp,văn hoá – giáo dục, y tế cũng đều được phát triển nhanh và lành mạnh.

    Những kết quả nói trên đã làm cho miền Bắc đổi thay nhanh chóng từ một xã hội vốn là thuộc địa của bọn đế quốc trước đây lại trải qua nhiều năm chiến tranh tàn phá đã trở thành xã hội của những người lao động (lao động chân tay và lao động trí óc ). Đất nước, xã hội và con người miền Bắc đều đổimới.

    Những kết qủa nói trên còn tạo ra những điều kiện thuận lợi về tinh thần và vậtchất để miền Bắc tiến lên đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốcMỹ ở giai đoạn sau, đồng thời miền Bắc thực hiện nhiệm vụ căn cứ địa cáchmạng của cả nước với chế độ chính trị tốt đẹp, với tiềm lực kinh tế và quốc phòng to lớn.

     
  3. chatlove

    chatlove Thành viên Vip

    Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh có chiến tranh(1965-1975)

    III. Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh có chiến tranh(1965-1975).
    1. Tình hình chung và chủ trương chiến lược của Đảng.

    Từ đầu năm 1965, để cứu vãn nguy cớ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mĩ đã ào ạt đưa quan Mĩ và quan các nước chư hầu vào miền Nam, tiến hành “Chiến tranh cục bộ” với quy mô lớn; đồng thời dùng không quân, hải quân hùng hổ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Trước tình hình đó, Đảng ta đã quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước trên phạm vi toàn quốc.
    Trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ, cách mạng thế giới đang ở thế tiến công. Ở miền Bắc, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã đạt và vượt các mục tiêu về kinh tế, văn hóa. Sự chi viện sức người, sức của của miền Bắc cho cách mạng miền Nam được đẩy mạnh cả theo đường bộ và đường biển.Chứng minh là từ năm 1961-1963, qua đường 559, có 40000 cán bộ, chiến sĩ ta từ Bắc vào Nam chiến đấu cùng 165000 khẩu sung các loại. Năm 1964, số bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam tăng 14 lần so với năm 1960(17.427/1.217); vũ khí, phương tiện chuyển vào miền Nam tăng 10 lần(3.435T/337T).

    Ở miền Nam, vượt qua những khó khăn trong những năm 1961-1962, từ năm 1963, cuộc đấu tranh của quân dân ta đã có bước phát triển mới. Ba công cụ của “Chiến tranh đặc biệt”(ngụy quân, ngụy quyền, ấp chiến lược và đô thị) đều bị quân dân ta tấn công liên tục. Đến đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ được triển khai đến mức cao nhất đã cơ bản bị phá sản.

    Trong khi đó, sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc càng trở lên gay gắt và không có lợi cho cách mạng Việt Nam. Việc đế quốc Mĩ mở cuộc “Chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân đội viễn chinh Mĩ và các nước chư hầu vào trực tiếp xâm lược miền Nam đã làm cho tương quan lực lượng trở nên bất lợi cho ta.

    Tình hình đó đặt ra yêu cầu mới cho Đảng ta trong việc xác định quyết tâm và đề ra đường lối kháng chiến chống Mĩ, cứu nước nhằm đánh thắng giặc Mĩ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc.

    2. Quá trình hình thành đường lối.

    Năm 1965 đế quốc Mỹ ồ ạt đánh phá ra miền Bắc bằng không quân và hải quân lần thứ nhất rất ác liệt. Cả nước có chiến tranh. Đứng trước tình hình đó, Đảng và nhà nước chủ trương xây dựng kinh tế trong thời chiến. Nội dung của chủ trương chuyển hướng là miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu. Từ1965 –1968 thực hiện chủ trương chuyển hướng nói trên, nhân dân miền Bắc sơ tán, phân tán ra khỏi các đô thị và những nơi đông dân để bảo đảm sản xuất thực hiện chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Đến 1968 quân và dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc đánh giỏi thắng rất to: miền Nam đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Giôn – xơn; đế quốc Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện và phải chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị ngoại giao để nói chuyện với ta.

    Từ 1969 – 1971 nhân dân miền Bắc tranh thủ thời gian ngừng bắn khôi phục chưa làm được bao nhiêu thì Mỹ lại bắn phá miền Bắc lần thứ hai ác liệt hơn.

    Trong những năm 1972 – 1973 đế quốc Mỹ đánh phá rất ác liệt, nhất là Mỹ tiến hành cuộc tập kích chiến lược bằng pháo đài B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng vànhững nơi đông dân khác. Nhân dân miền Bắc lại thực hiện chuyển hướng xâydựng kinh tế trong thời chiến lần thứ hai, lại sơ tán, phân tán ra khỏi các đô thị để bảo đảm sản xuất phục vụ chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Đến cuối 1972 quân và dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc lại đánh giỏi thắng to, miền Bắc làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ trên không vào những ngày cuối 1972. Bị thua ở cả hai miền Nam – Bắc nước ta, Mỹ phải ký hiệp định Paris sau 5 năm ngoan cố phá hoại hội nghị này ( 27-1-1973).

    Trong những năm 1973-1975 miền Bắc được trở lại hoà bình. Nhân dân miềnBắc tranh thủ khôi phục toàn diện nền kinh tế quốc dân, đồng thời tranh thủ chiviện sức người sức của để cùng đồng bào miền Nam tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.


    3. Những thành tựu đã đạt được.

    Sau bốn năm thực hiện chuyển hướng kinh tế, miền Bắc đã đạt được những thành tích đáng tự hào trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, chi viện đắc lực cho tiền tuyến lớn miền Nam.

    Chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, điển hình là chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không” cuối cùng trên bầu trời Hà Nội năm 1972.

    Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục, làm cho miền Bắc ngày càng thêm vững mạnh. Chế độ xã hội chủ nghĩa đang được xây dựng ở miền Bắc lúc đó đã vượt qua được nhiều thử thách nghiêm trọng và ngày càng phát huy tính ưu việt trong thời kỳ có chiến tranh.

    Chuyển hướng kinh tế, tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh có chiến tranh là nét đặc biệt, chưa có tiền lệ. Sản xuất nông nghiệp không những không giảm sút mà vẫn có bước phát triển tiến bộ. Cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nông nghiệp được tăng cường hơn so với trước chiến tranh: có 4.655 hợp tác xã được trang bị cơ khí nhỏ. Phong trào thâm canh tăng vụ được đẩy mạnh ở nhiều địa phương. Nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội vẫn bảo đảm.

    Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp vẫn được duy trì mặc dù gặp nhiều khó khăn gay gắt. Nhiều nhà máy và xí nghiệp lớn phải sơ tán hoặc phân nhỏ để tiếp tục sản xuất trong điều kiện có chiến tranh. Công nghiệp địa phương phát triển mạnh.

    Đời sống nhân dân căn bản được ổn định. Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, đào tạo cán bộ chẳng những không ngừng trệ mà còn phát triển mạnh mẽ trong thời chiến và đạt nhiều kết quả tốt. Công tác nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, thăm dò tài nguyên được đẩy mạnh, vừa phục vụ sự nghiệp xây dựng kinh tế trước mắt, vừa chuẩn bị cho nhiệm vụ lâu dài xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Cùng với đó, nhân dân miền Bắc đã khẩn trương bắt tay khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chấp hành các nghị quyết của Đảng, sau ba năm phấn đấu gian khổ, từ năm 1969 đến năm 1972, tình hình khôi phục kinh tế và tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội có nhiều chuyển biến tốt đẹp trên các mặt. Trong nông nghiệp: năm 1969, diện tích các loại cây trồng đều vượt năm 1968, riêng diện tích và sản lượng lúa tăng khá nhanh, lúa xuân tăng hai lần so với năm 1968, chăn nuôi cũng phát triển mạnh. Trong công nghiệp: hầu hết các xí nghiệp bị địch đánh phá được khôi phục, sửa chữa. Hệ thống đường giao thông, cầu phà, bến bãi được khẩn trương khôi phục và xây dựng thêm. Trong lĩnh vực giáo dục, y tế: phát triển tốt trong những năm có chiến tranh phá hoại. Hệ thống giáo dục đại học gồm 36 trường và phân hiệu với tổng số 8 vạn sinh viên.

    Những kết quả đạt được cho phép miền Bắc chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến được thực hiện ở mức cao, góp phần quyết định tạo nên chiến thắng vang dội trên chiến trường miền Nam, trong cuộc tập kích chiến lược năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải thỏa thuận một thời gian biểu cho việc ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam do Chính phủ ta dự thảo.

     
  4. chatlove

    chatlove Thành viên Vip

    Miền Bắc làm nghĩa vụ hậu phương lớn.

    IV. Miền Bắc làm nghĩa vụ hậu phương lớn.

    Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ đầy oanh liệt của dân tộc Việt Nam, miền Bắc là hậu phương lớn có nghĩa vụ chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.

    Để thực hiện chủ trương chi viện lực lượng, vật chất cho miền Nam, Bộ Chính trị quyết định tổ chức tuyến giao liên vận tải quân sự trên bộ và trên biển (sau này là tuyến đường Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh) để vận chuyển hàng quân sự vào miền Nam, tổ chức đưa cán bộ, bộ đội, chuyển công văn, tài liệu đi lại giữa hai miền. Không thể nói hết sự hy sinh, gian khổ của bộ đội vận tải.. Suốt trong cuộc chiến tranh, họ đã phải chịu đựng nhiều thử thách khốc liệt, thời tiết nghiệt ngã của núi rừng Trường Sơn, của biển cả để hoàn thành nhiệm vụ; “đội” bom thù để bảo đảm thông suốt tuyến đường, bám xe vận chuyển từng cân hàng cho tiền tuyến. Đã có hàng vạn, hàng vạn bộ đội, hàng triệu tấn vũ khí, trang bị, đạn dược, hàng hóa hậu cần vượt qua bom đạn được vận chuyển tới chiến trường. Chỉ riêng phục vụ cho cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, từ tháng 1 đến tháng 4-1975, đoàn vận tải Trường Sơn đã vận chuyển vào Nam bộ 11 vạn 5 nghìn quân, 9 vạn tấn hàng. Những ngày “chuẩn bị nước rút” (từ 5 đến 26-4) đã vận chuyển được 10.100 tấn đạn, 2.300 tấn lượng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, 2.600 tấn xăng dầu... Hơn 10.000 cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong trai trẻ đã ngã xuống cho tuyến đường vận tải quân sự thông suốt từ miền Bắc vào miền Nam. Trên biển, trong suốt cuộc chiến tranh, ta đã đi được 169 chuyến, đến nơi 100 chuyến, 20 chuyến phải quay về, tổn thất 19 chuyến, vận chuyển được 5.677 tấn hàng, mất gần 700 tấn; có 76 đồng chí hy sinh, 51 đồng chí bị thương. Mỗi khẩu súng, viên đạn đến được chiến trường là tình dân, ý Đảng, là tình cảm của Bác Hồ, của quân, dân miền Bắc-hậu phương lớn gửi gắm tới đồng bào, chiến sĩ miền Nam đánh giặc.

    Dưới mưa bom bão đạn Mỹ, quân và dân miền Bắc không những kiên cường đánh trả giặc Mỹ, đồng thời đẩy mạnh lao động sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng tiềm lực kinh tế-xã hội, tiềm lực quân sự, chi viện của cải, vật chất “Tất cả vì miền Nam ruột thịt” mà còn chi viện cho miền Nam cả “máu của mình”. Hàng triệu cán bộ, chiến sĩ quê miền Bắc đã vào Nam chiến đấu. Hàng chục vạn thanh niên nam nữ, trai tráng của miền Bắc đã vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường.

    Ngay sau khi ký hiệp định Pari để đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, giữ vững vùng giải phóng, vùng tranh chấp và các căn cứ lõm, miền Bắc đã bổ sung vào miền Nam 17.000 quân chiến đấu. Đây là một cố gắng lớn của hậu phương miền Bắc vì từ 1964 đến 1973 miền Bắc đã chi viện hết mình.

    Để tiến hành chiến dịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị quyết định thành lập Hội đồng chi viện miền Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch: tổng động viên nhân tài, vật lực, dốc sức người, sức của của hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Hầu như toàn bộ lực lượng vận tải trên miền Bắc đều được huy động. Từ Hà Nội, Nam Định, từng đoàn xe lửa chở đầy bộ đội và vũ khí, đạn dược hối hả chạy thẳng vào Vinh, từ đây, bằng các phương tiện ô tô, tàu thủy, người và súng đạn được chuyển tiếp vào phía Nam. Các cảng sông, cảng biển ở miền Bắc khẩn trương, nhộn nhịp. Tàu thuyền của hải quân, của ngành giao thông vận tải liên tục chở xe tăng, pháo lớn và bộ đội vào Đà Nẵng, từ đó cơ động bằng đường bộ tỏa ra các hướng...

    Việc bảo đảm quân chiến đấu thực tế đã có những khó khăn gay gắt. Tổng quân số lúc này đã chiếm hơn 50% số trai từ 18 đến 25 tuổi hiện có trong cả nước. Trong khi đó, để có đủ lực lượng thực hiện kế hoạch giành thắng lợi cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa cuối cùng, yêu cầu cần tuyển thêm 17 vạn quân trong năm 1975 (tăng 50% so với năm 1973 và 1974). Đây là số lượng rất cao so với tỷ lệ dân số, nhưng không thể làm khác được. Với tinh thần bất cứ tình huống nào cũng phải có đủ lực lượng chiến đấu cho miền Nam, miền Bắc đã phải tuyển thêm quân ở độ tuổi 26 đến 30 và một phần ở khu vực học sinh, sinh viên và cán bộ, công nhân viên nhà nước. Thực tế, trong hai năm 1974, 1975 hậu phương lớn đã chi viện 264.000 quân và gần 50 vạn tấn vật tư chiến tranh cho chiến trường.
    “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Miền bắc là hậu phương lớn mà không thể phân biệt đâu là tiền tuyến, đâu là hậu phương. Cả dân tộc đã kết thành một khối vì khát vọng hòa bình và độc lập, tự do.

    V. Tổng kết.

    Thắng lợi oanh liệt của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đã khẳng định vị trí to lớn của hận phương trong chiến tranh. Và việc giải quyết thành công vấn đề hậu phương đã giải thích tại sao chúng ta đã đánh thắng những đế quốc to lớn, có tiềm lực kinh tế, quân sự - khoa học mạnh hơn ta rất nhiều. Đặc biệt việc xây dựng miền Bắc trong những năm ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ là một minh chứng hùng hồn cho đường lối đúng đắn của Đảng trong việc xác định hậu phương chiến lược. Những năm cả đất nước có chiến tranh cũng là những năm miền Bắc là tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến miền Nam, chống Mỹ, cứu nước. Khát vọng độc lập tự do của cả một dân tộc không mệt mỏi, không nao núng trước những hy sinh mất mát trong suốt hơn 30 năm trời đã đưa cả dân tộc đi tới thắng lợi vẻ vang vào mùa xuân năm 75. Đay cũng là biểu hiện cao nhất của tinh thần độc lập dân tộc, thống nhất Tổ Quốc dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong thắng lợi vẻ vang, những thành công trong quá trình xây dựng hậu phương miền Bắc là một trong những nhân tố góp phần quyết định. Đồng thời, nó khẳng định chủ trương của Đảng trong việc đặt vấn đề xây dựng hậu phương là một trong những nhiệm vụ quan trong là hoàn toàn đúng đắn.

    Mặc dù trong quá trình xây dưng CNXH trên miền Bắc, chúng ta còn có những hạn chế nhất định. Nhưng điều căn bản là hậu phương miền Bắc đã giữ được ổn định vững chắc về tất cả mọi mặt và phát triển trong điều kiện chiến tranh khốc liệt. Vượt lên những khó khăn thử thách, miền Bắc đà hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là hậu phương của cuộc chiến tranh. “Không thể nào có thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc XHCN, suốt 16 năm qua luôn cùng lúc phải làm 2 nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965, miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sực mạnh của chế độ XHCN và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ cách mạng của các nước”{13.Tr28-29}.
     
  5. chatlove

    chatlove Thành viên Vip