Lịch sử 12 bài 20 - Cuộc kháng chiến chống thực dân pháp kết thúc 1953 - 1954

Chuyên mục 'Diễn đàn Lich Sử' bởi quynhgiao, 22 Tháng chín 2014.

  1. Bài 20. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP KẾT THÚC (1953-1954)

    A. KIẾN THỨC CƠ BẢN


    I. Âm mưu mới của Pháp-Mĩ ở Đông Dương: Kế hoạch Nava


    1 Hoàn cảnh:

    - Sau 8 năm CT, lực lượng k/c của ta ngày càng trưởng thành. Trong khi đó, Pháp thiệt hại ngày càng lớn, mất 39 vạn quân, ngày càng lâm vào thế bị động.
    - Mĩ ngày càng can thiệp sâu vào chiến tranh Đông Dương.
    - Được Mĩ giúp đỡ, Pháp cho ra đời KH Nava.

    2. Nội dung KH Nava: chia làm 2 bước:

    - B1: Thu – đông 1953 và xuân 1954: giữ thế phòng ngự ở Bắc Bộ, tiến công chiến lược ở Trung Bộ và Nam Đông Dương; XD đội quân cơ động mạnh (ở đồng bằng Bắc Bộ).
    - B2: Từ thu – đông 1954: tiến công chiến lược ở Bắc Bộ, cố gắng giành thắng lợi quân sự quyết định buộc ta đàm phán có lợi cho chúng.
    * Thực hiện KH Nava: Pháp - Mĩ tập trung quân ở đồng bằng Bắc Bộ lên đến 44 tiểu đoàn, tiến hành càn quét, bình định vùng chiếm đóng, mở cuộc tiến công lớn vào Ninh Bình, Thanh Hóa...
    Như vậy, trọng tâm của kế hoạch Na-va là tập trung quân. Do đó, Pháp tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ 44/84 tiểu đoàn cơ động...

    II. Cuộc tiến công chiến lược đông - xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954
    [​IMG]

    1. Cuộc tiến công chiến lược đông - xuân 1953 - 1954
    (Đây là thắng lợi của ta đã làm phá sản bước đầu kế hoạch Na-va )

    * Chủ trương của ta:

    Tập trung lực lượng tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, đồng thời buộc địch phải phân tán lực lượng tạo điều kiện cho ta tiêu diệt chúng.

    * Diễn biến các cuộc tiến công chiến lược:

    - 10/12/1953, ta tiến công và giải phóng thị xã Lai Châu, Pháp phải tăng cường quân cho Điện Biên Phủ. Điện Biên Phủ thành nơi tập trung quân thứ 2 của Pháp.
    - Đầu 12/1953, liên quân Lào – Việt tiến công Trung Lào, giải phóng Thà Khẹt, uy hiếp Xênô, buộc Pháp tăng cường cho Xênô ( Xênô thành nơi tập trung quân thứ 3 của Pháp).
    - Cuối tháng 1/1954, liên quân Lào – Việt tiến công Thượng Lào, giải phóng Phongxalì và Mường Sài, Pháp phải tăng cường cho Luông Phabang và Mường Sài (Phabang và Mường Sài thành nơi tập trung quân thứ 4 của Pháp).
    - 2/1954 ta tiến công Bắc Tây Nguyên, giải phóng thị xã Kon Tum, Pháp phải tăng cường cho Plâyku (Plâyku thành nơi tập trung quân thứ 5).
    => Như vậy, các chiến dịch tiến công của ta khắp chiến trường Đông Dương đã buộc địch phải phân tán lực lượng để đối phó. Kế hoạch Nava bước đầu đã bị phá sản.

    2. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ

    (Đây là thắng lợi của ta đã làm phá sản hoàn toàn kế hoạch Na-va)

    * Âm mưu của Pháp, Mĩ:

    - Điện Biên Phủ có vị trí chiến lược then chốt ở Đông Dương và Đông Nam Á nên Pháp cố nắm giữ.
    - Nava xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, gồm 16.200 quân, đủ loại binh chủng, được bố trí thành ba phân khu với 49 cứ điểm.
    -Pháp và Mĩ coi Điện Biên Phủ là “một pháo đài bất khả xâm phạm”, thu hút chủ lực ta vào để tiêu diệt. ĐBP trở thành trung tâm của kế hoạch Nava.

    * Chủ trương của ta:

    - Tháng 12/1953, Đảng quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ nhằm tiêu diệt lực lượng địch, giải phóng Tây Bắc, tạo điều kiện cho Lào giải phóng Bắc Lào, đập tan KH Nava.
    - Ta huy động một lực lượng lớn chuẩn bị cho chiến dịch, khoảng 55.000 quân, hàng chục ngàn tấn vũ khí, đạn dược; lương thực, cùng nhiều ô tô vận tải, thuyền bè… chuyển ra mặt trận.
    - Đầu tháng 3-1954, công tác chuẩn bị đã hoàn tất.

    * Diễn biến: Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra qua 3 đợt:
    - Đợt 1, từ ngày 13 đến 17/3/1954: Ta tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam và toàn bộ phân khu Bắc.
    - Đợt 2, từ ngày 30/3 đến 26/4/1954: Ta đồng loạt tiến công phía đông phân khu Trung tâm, bao vây, chia cắt địch.
    - Đợt 3, từ ngày 1 đến 7/5/1954: Ta đồng loạt tiến công khu Trung tâm và phân khu Nam.
    - 17 giờ 30 phút chiều 7/5, ta đánh vào sở chỉ huy địch, bắt sống tướng Đơ Caxtơri cùng toàn bộ Ban tham mưu địch.

    * Kết quả:
    ta loại khỏi vòng chiến 16.200 địch, trong đó có 1 thiếu tướng, bắn rơi 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí, phương tiện chiến tranh.

    * Ý nghĩa:

    - Đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava. Giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương.
    - Tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi.

    [​IMG]
    Quân đội nhân dân Việt Nam đánh chiếm trung tâm phòng ngự của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (7-5-1954)

    3. Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương


    a) Hội nghị Giơnevơ:

    - Đông - xuân 1953 - 1954, đồng thời với cuộc tiến công quân sự, ta đẩy mạnh ĐT ngoại giao, mở ra khả năng giải quyết bằng con đường hòa bình cuộc CT Đ.Dương.
    - 1/1954, HN ngoại trưởng LX, Mĩ, Anh, Pháp họp ở Béclin đã thỏa thuận triệu tập 1 HN lập lại hòa bình ở Đông Dương.
    - 8/5/1954, HN Giơnevơ bàn về Đông Dương bắt đầu, phái đoàn ta chính thức được mời họp.
    - 21/7/1954, Hiệp định GNV được ký kết.

    b) Hiệp định Giơnevơ:


    * Nội dung:

    - Các nước tham dự HN cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước VN, L, CPC.
    - Các bên tham chiến ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương, thực hiện tập kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực.
    - Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự và vũ khí nước ngoài vào Đông Dương.
    - Ở Việt Nam lấy vĩ tuyến 17 dọc sông Bến Hải làm giới tuyến quân sự tạm thời, sẽ tiến tới thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước, sẽ tổ chức vào tháng 7/1956.

    * Ý nghĩa:

    - Hiệp định Giơnevơ là văn bản pháp lý quốc tế ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Đông Dương.
    - Đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
    - Pháp phải chấm dứt CT. Mĩ thất bại trong âm mưu kéo dài, mở rộng CT Đông Dương.

    4. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Pháp


    a) Nguyên nhân thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp:

    - Có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo.
    - Có chính quyền dân chủ nhân dân, có mặt trận dân tộc thống nhất, có lực lượng vũ trang 3 thứ quân vững mạnh, có hậu phương rộng lớn.
    - Có liên minh chiến đấu của ND 3 nước Đông Dương.
    - Sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân...

    b) Ý nghĩa lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp:

    - Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân của Pháp trong gần một thế kỷ trên đất nước ta.
    - Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.
    - Giáng đòn nặng nề vào tham vọng xâm lược, nô dịch của CNĐQ.
    - Góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mĩ Latinh.

    Bài tiếp theo: Lịch sử 12 bài 21 - Xây dựng CNXH ở Miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Miền Nam (1954 - 1965)

    Xem video bài giảng bên dưới!
    B. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

    1. Mối quan hệ giữa mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao trong kháng chiến chống Pháp.


    2. Tại sao trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng ta đề ra đường lối kháng chiến toàn diện ? Kháng chiến toàn diện đã thể hiện trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và sự can thiệp của Mĩ (1946 – 1954) như thế nào ?

    * Tại sao trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra đường lối kháng chiến toàn diện ?
    Mặc dù đã kí Hiệp định Sơ bộ 6 - 3 - 1946 và Tạm ước 14 - 9 - 1946, thực dân Pháp vẫn đẩy mạnh việc chuẩn bị chiến tranh xâm lược nước ta. Ngày 18 - 12 - 1946, Pháp gửi tối hậu thư đòi Chính phủ ta phải giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, để cho quân Pháp làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự ở Hà Nội.
    Tình thế khẩn cấp buộc Đảng và Chính phủ ta phải có những quyết định kịp thời trước vận nước lâm nguy. Trong hai ngày 18, 19 - 12 - 1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng đã quyết định phát động cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp ... Ngày 19 - 12 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”. Ngày 22 - 12 - 1946, Trung ương Đảng ra “Chỉ thị toàn dân kháng chiến”...
    Muốn làm cho khẩu hiệu “toàn dân kháng chiến” có nội dung thực sự thì kháng chiến phải có nhiều hình thức quân sự, chính trị, kinh tế... Thông qua những hình thức kháng chiến toàn diện như thế thì toàn dân ta mới phát huy được hết năng lực của mình trong cuộc kháng chiến...
    Thực dân Pháp không những đánh ta về mặt quân sự mà còn phá ta về cả kinh tế, chính trị, văn hóa... cho nên ta không những phải kháng chiến trên mặt trận quân sự mà phải đánh bại mọi âm mưu phá hoại về kinh tế và chính trị của chúng, phải kháng chiến toàn diện...
    Kháng chiến toàn diện đã thể hiện trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mĩ (1946 – 1954) như thế nào ?
    Chính trị: Không ngừng nâng cao khối đoàn kết toàn dân, chống lại âm mưu chia rẽ của kẻ thù, củng cố và phát triển chính quyền cách mạng, chống âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của chúng. Tăng cường không ngừng sự lãnh đạo của Đảng làm hạt nhân lãnh đạo đưa kháng chiến đến thắng lợi. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai và đổi tên Đảng; Đại hội thống nhất mặt trận Việt Minh – Liên Việt đầu năm 1951... Công tác vận đồng bào miền núi, đồng bào công giáo, quần chúng trong vùng địch tạm chiếm, công tác binh vận được Đảng coi trọng.
    - Kinh tế :
    + Xây dựng nền kinh tế kháng chiến tự cấp, tự túc bảo đảm phục vụ kháng chiến, ổn định đời sống nhân dân; thực hiện chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”. Đấu tranh chống lại âm mưu phá hoại kinh tế của địch, bảo vệ mùa màng, thóc gạo.
    + Đặc biệt Đảng ta không ngừng thực hiện từng bước nhiệm vụ dân chủ
    cho nông dân (các chính sách giảm tô, giảm tức,chia ruộng công, thuế nông nghiệp nhất là chủ trương triệt để giảm tô giảm tức và cải cách ruộng đất trong thời kì 1953 – 1954).
    + Nhờ đó đã động viên sức mạnh to lớn của hậu phương cho kháng chiến thắng lợi. Cơ sở công nghiệp quốc phòng được xây dựng khá nhiều với quy mô vừa và nhỏ ở khắp các vùng tự do và chiến khu.
    Ngoại giao : Đại hội thành lập liên minh chiến đấu ba nước Việt – Miên
    Lào đầu năm 1951; Việt Nam cử quân tình nguyện sang giúp nhân dân Miên và Lào; năm 1950 Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa công nhận nước ta; cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán ở Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương năm 1954...
    Quân sự : Thắng lợi trên các mặt kháng chiến nói trên đã góp phần tạo ra và thúc đẩy thắng lợi ngày càng to lớn của nhân dân ta trên các chiến trường.
    + Mở đầu kháng chiến, quân và dân ta đã chặn đứng âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của giặc Pháp, tiêu hao và vây hãm chúng trong các thànhh phố và thị xã, tạo điều kiện cho cả nước đi vào kháng chiến lâu dài, lực lượng vũ trang nhân dân với ba thứ quân không ngưng trưởng thành về mọi mặt.
    + Cùng với tiến công đánh địch ngày càng mạnh mẽ ở vùng sau lưng
    địch, giải phóng đất đai, đẩy địch ngày càng xa vào thế bị động khốn đốn; chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 đập tan hoàn toàn âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của Pháp, đưa kháng chiến tiến lên một bước mới.
    + Chiến thắng Biên giới thu - đông năm 1950 ta đã phá tan thế bao vây
    phong toả của kẻ thù, giành thế chủ động ở chiến trường chính Bắc Bộ. Đỉnh cao nhất của kháng chiến là cuộc tiến công chiến lược đông - xuân 1953 – 1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ đã đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava, buộc thực dân Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ rút quân về nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến.
    Nhờ kháng chiến toàn diện, ta đã đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi, xây dựng được chế độ dân chủ nhân dân, tạo tiền đề để đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội sau này.

    3. Trình bày mối quan hệ giữa chiến thắng Điện Biên Phủ với việc kí kết Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương năm 1954. Ý nghĩa quốc tế của chiến thắng Điện Biên Phủ ?

    Mối quan hệ giữa chiến thắng Điện Biên Phủ với việc kí kết Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương năm 1954 :
    Thực tế lịch sử nước ta đã chứng minh rằng : chỉ có đánh tan ý chí xâm lược của kẻ địch thì chúng mới chịu thương lượng thực sự để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Thắng lợi ở bàn hội nghị, chỉ có thể được thực hiện khi chúng có thực lực, khi chúng ta đã thắng, đã mạnh, đã đè bẹp được ý chí xâm lược của kẻ thù.
    Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang đi đến hồi kết thúc. Ta và Pháp tiến hành đàm phán ở Giơnevơ. Do thái độ của Pháp vẫn chưa từ bỏ ý chí xâm lược, nên không thành thật đàm phán... Đến khi thất bại ở Điện Biên Phủ, ý chí xâm lược bị đánh tan, Pháp mới chịu kí kết với Ta Hiệp định Giơnevơ. Do vậy, thắng lợi ở trận Điện Biên Phủ có tác dụng quyết định đối đối với thắng lợi của nhân dân ta trong Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương 1954.
    Chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi trong Hội nghị Giơnevơ đã kết thúc cuộc kháng chiến trường kì của nhân dân ta chống đế quốc Pháp và sự can thiệp của Mĩ, mở ra một giai đoạn mới cho lịch sử dân tộc.
    Ý nghĩa quốc tế của chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 :
    Giáng một đòn mạnh mẽ vào hệ thống thực dân, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ.
    Cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới trước hết là ở châu Á, châu Phi, góp phần thu hẹp trận địa của chủ nghĩa đế quốc
    Nêu tấm gương về chống chủ nghĩa thực dân, một dân tộc đất không rộng người không đông nếu quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do, có đường lối quân sự chính trị đúng đắn, được sự ủng hộ quốc tế thì hoàn toàn có khả năng đánh bại một đế quốc hùng mạnh. Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới dâng cao sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954.
     
  2. quynhgiao

    quynhgiao Biên tập viên

    [ ViettelStudy ] Ôn tập - Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953- 1954)

    Phần 1


    Phần 2


    Phần 3
     
  3. quynhgiao

    quynhgiao Biên tập viên

    [ ViettelStudy ] LTĐH - Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953- 1954)

    Phần 1


    Phần 2


    Phần 3


    Phần 4