Lịch sử 12 bài 22 - Nhân dân hai miền trực tiếp đấu tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược.

Chuyên mục 'Diễn đàn Lich Sử' bởi quynhgiao, 22 Tháng chín 2014.

  1. LỊCH SỬ 12 BÀI 22
    NHÂN DÂN HAI MIỀN TRỰC TIẾP ĐẤU TRANH CHỐNG ĐẾ QUỐC MĨ XÂM LƯỢC. NHÂN DÂN MIỀN BẮC VỪA CHIẾN ĐẤU VỪA SẢN XUẤT (1965-1973)

    A. KIẾN THỨC CƠ BẢN


    I. Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ ở miền Nam (1965-1968)


    1. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam (Âm mưu và hành động mới của Mĩ)


    a. Âm mưu:

    - Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, Mĩ phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.
    - Đây là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến hành bằng lực lượng quân Mĩ, quân một số nước đồng minh của Mĩ và quân đội Sài Gòn. Quân số lúc cao nhất (1969) lên gần 1,5 triệu (Mĩ hơn 0,5 triệu).

    b. Mục tiêu
    : cố giành lại thế chủ động trên chiến trường, buộc ta phân tán đánh nhỏ hoặc rút về biên giới.

    c. Hành động
    :
    - Dựa vào ưu thế quân sự mở cuộc hành quân “tìm diệt” vào căn cứ quân giải phóng ở Vạn Tường (Quảng Ngãi).
    - Mở 2 cuộc phản công chiến lược trong 2 mùa khô (1965-1966 và 1966-1967) bằng hàng loạt cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và quân chủ lực của ta.

    [​IMG]
    Lược đồ trận vạn Tường (8-1965)
    2. Chiến đấu chống “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ

    * Mặt trận quân sự:

    - 18/8/1965, ta đánh bại cuộc hành quân của địch vào Vạn Tường (Q.Ngãi), mở đầu cao trào “Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp MN.
    - Mùa khô 1965 - 1966, ta đập tan cuộc phản công chiến lược của địch vào Đông Nam Bộ và Liên khu V (với 450 cuộc hành quân), loại khỏi vòng chiến 104.000 địch, trong đó có 42.000 quân Mĩ...
    - Mùa khô 1966 - 1967, ta tiếp tục đập tan cuộc phản công chiến lược lần 2 của địch (với 895 cuộc h/q), loại 151.000 địch, trong đó có 68.000 quân Mĩ... So sánh lực lượng đã bắt đầu thay đổi có lợi cho ta.
    - Ở nông thôn, QC tiếp tục phá vỡ từng mảng “Ấp chiến lược”; Ở thành thị, phong trào ĐT đòi Mĩ rút về nước diễn ra sôi nổi. Vùng giải phóng được mở rộng.
    - Bước vào mùa xuân 1968, ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, trọng tâm là các đô thị. Trong đợt 1 ta đã loại khỏi vòng chiến 147.000 tên, trong đó có 43.000 lính Mĩ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 đã mở ra bước ngoặt của cuộc k/c chống Mĩ: làm lung lay ý chí xâm lược của quân Mĩ, buộc Mĩ phải thừa nhận t/bại của “CTCB”, chấm dứt CT phá hoại MB, chấp nhận đàm phán với ta ở Pari.

    3. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

    - Bối cảnh:
    Bước vào mùa xuân năm 1968, so sánh lực lượng giữa ta và địch thay đổi có lợi cho ta sau hai mùa khô (1965-1966 và 1966-1967), đồng thời lợi dụng mâu thuẫn ở nước Mĩ trong năm bầu cử tổng thống, ta chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, trọng tâm là các đô thị.

    - Diễn biến:
    Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra qua 3 đợt: Đợt 1 từ 30/1 đến 25/2/1968; Đợt 2: tháng 5 và 6; Đợt 3: tháng 8 và 9/1968.

    - Kết quả, ý nghĩa:

    + Trong đợt 1 ta đã loại khỏi vòng chiến 147.000 tên, trong đó có 43.000 lính Mĩ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh.
    + Mở ra bước ngoặt của cuộc k/c chống Mĩ: làm lung lay ý chí x/l của quân Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hoá” CT (tức thừa nhận t/bại của “CTCB”), chấm dứt CT phá hoại MB, chấp nhận đàm phán với ta ở Pari.

    [​IMG]
    Tiểu đội 11 cô gái Sông Hương trong những ngày đánh Mỹ (Ảnh tư liệu chụp lại).​

    II. Miền Bắc vừa chiến đấu chống CTPH lần thứ nhất của Mĩ, vừa sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương (1965-1968)


    1. Mĩ tiến hành CT bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc


    a. Âm mưu:

    - Phá tiềm lực kinh tế, quốc phòng và công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc.
    - Ngăn chặn nguồn chi viện bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam.
    - Uy hiếp tinh thần và làm lung lay ý chí chống Mĩ của nhân dân ta.

    b. Thủ đoạn:

    Mĩ dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” (8/1964), sau đó lấy cớ “trả đũa” quân GP tiến công quân Mĩ ở Plâyku (2/1965), chính thức gây CTPH MB lần I.

    .2. Miền Bắc vừa chiến đấu chống CTPH, vừa sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương:


    * Những thành tích đạt được:

    - Chiến đấu: (5/8/1964 -> 1/11/1968): hạ 3.243 mbay (6 B52, 3 F111), 143 tàu chiến. Mĩ phải ngừng ném bom phá hoại miền Bắc.
    - Sản xuất: diện tích canh tác mở rộng, năng suất l/đ không ngừng tăng lên; CN địa phương và CN quốc phòng phát triển; GTVT vẫn đảm bảo thông suốt.
    - Hậu phương: Trong 4 năm (1965 - 1968), qua 2 tuyến đường chiến lược Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển (khai thông từ năm 1959), MB đưa vào MN hơn 30 vạn cán bộ, bộ đội, hàng chục vạn tấn vật chất, tăng gấp 10 lần so với trước, (shopkienthuc.net) góp phần quyết định vào thắng lợi của quân dân MN trong chiến đấu chống “CT cục bộ”.

    III. Chiến đấu chống chiến lược “VN hóa chiến tranh” và “ĐDH chiến tranh” của Mĩ (1969-1973)


    1. Chiến lược “VN hoá CT” và “Đông Dương hóa CT” của Mĩ (Âm mưu và thủ đoạn)

    - Đầu 1969, sau thất bại của “CTCB”, Mĩ chuyển sang thực hiện “VNH CT” và mở rộng CT ra toàn ĐD, thực hiện “ĐDH CT”.
    - “VNH CT” vẫn là hình thức CT x/l TD mới được tiến hành bằng quân đội SG là chủ yếu, có sự phối hợp về không quân, hỏa lực, hậu cần của Mĩ và vẫn do cố vấn Mĩ chỉ huy.
    - Tiếp tục âm mưu “Dùng người Việt đánh người Việt”, và mở rộng “Dùng người ĐD đánh người ĐD” để giảm xương máu người Mĩ trên chiến trường.
    - Quân SG được sử dụng như 1 lực lượng xung kích để mở rộng x/l CPC (1970) và tăng cường x/l Lào (1971).
    - Mĩ còn sử dụng thủ đoạn ngoại giao như thỏa hiệp với TQ, hòa hoãn với LX để hạn chế sự giúp đỡ của TQ, LX đối với cuộc k/c của VN.

    2. Chiến đấu chống chiến lược “VN hóa chiến tranh” và “ĐD hóa chiến tranh” của Mĩ

    - Ngày 6/6/1969, Chính phủ CM lâm thời Cộng hòa MN VN thành lập, là chính phủ hợp pháp của NDMN, được nhiều nước công nhận.
    - Ngày 24 và 25/4/1970, HN cấp cao 3 nước Đông Dương họp, biểu thị quyết tâm đoàn kết chống Mĩ.
    - Ở các thành thị, phong trào của các tầng lớp nhân dân nổ ra liên tục, nhất là ph/trào học sinh, sinh viên ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng.
    - Quần chúng khắp nơi tiếp tục nổi dậy chống “bình định”, phá “ấp chiến lược”. Đầu 1971, cách mạng làm chủ thêm 3.600 ấp với 3 triệu dân.
    - Từ 30/4 -> 30/6/1970, quân đội VN phối hợp với quân dân CPC đập tan cuộc hành quân xâm lược CPC của 10 vạn quân Mĩ và quân SG, loại 17.000 tên, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn.
    - Tháng 2, 3/1971 quân đội VN và quân dân Lào đập tan cuộc hành quân “Lam sơn - 719” của quân Mĩ - SG ở đường 9 – Nam Lào, loại 22.000 tên, giữ vững hành lang chiến lược của CMĐD.
    - Từ 30/3/1972 đến cuối tháng 6/1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược từ Quảng Trị phát triển khắp MN, chọc thủng 3 phòng tuyến mạnh nhất của địch là Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, loại hơn 20 vạn địch, giáng 1 đòn nặng nề vào chiến lược “VNHCT”, buộc Mĩ phải tuyên bố “Mĩ hóa” trở lại CT x/l (tức thừa nhận thất bại của “VNHCT”).

    IV. Miền Bắc khôi phục và phát triển KT - XH, chiến đấu chống CTPH lần II của Mĩ và làm nghĩa vụ hậu phương (1969 - 1973)


    1. Miền Bắc vừa chiến đấu chống CTPH, vừa sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương


    a. CTPH MB lần II của Mĩ:

    * Âm mưu: Ngoài âm mưu như lần I (...), Mĩ còn nhằm cứu nguy cho “VNH CT” và tạo thế mạnh trên bàn đàm phán ở Pari.
    * Thủ đoạn: Vượt xa lần I về quy mô, tốc độ, cường độ đánh phá; sử dụng các máy bay hiện đại nhất (B52, F111).
    * Thời gian: Từ 6/4/1972, chính thức từ 16/4/1972 cho đến 15/1/1973.

    b. MB chống CTPH lần II của Mĩ:

    - Ngày 16/4/1972, Ních-xơn chính thức tiến hành CTPH MB lần II.
    - Quân dân MB có sự chuẩn bị sẵn sàng nên đã kịp thời đánh trả địch. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, các hoạt động sản xuất, GTVT, VH, GD, y tế vẫn được đảm bảo.
    - Từ ngày 18 đến hết ngày 29/12/1972, Mĩ mở cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào HN và HP (nhằm buộc ta kí HĐ có lợi cho Mĩ). Quân dân MB đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích của Mĩ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”,(Shop Kiến Thức) bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B52 (trong cả cuộc CTPH lần thứ II, MB bắn rơi 735 máy bay Mĩ, bắn chìm 125 tàu chiến...), buộc Mĩ phải ngừng hẳn các hoạt động chống phá MB (15/1/1973) và kí HĐ Pari chấm dứt CT, lập lại HB ở VN (27/1/1973).

    c. MB làm nghĩa vụ hậu phương lớn:

    Trong t/gian 1969 - 1972, kể cả trong CTPH lần II, MB vẫn đảm bảo chi viện ngày càng lớn cho chiến trường MN, Lào và CPC: hàng chục vạn thanh niên nhập ngũ, vào chiến trường; khối lượng vật chất đưa vào các chiến trường tăng gấp 1,6 lần...

    V. Đấu tranh ngoại giao - Hiệp định Pari 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam


    * Hoàn cảnh kí kết Hiệp định Pari:

    Những thắng lợi của quân dân ta ở cả hai miền đất nước, đặc biệt là chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 của quân dân miền Bắc đã có ý nghĩa quyết định buộc Mĩ kí H/định Pari chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN (27/1/1973).

    * Nội dung Hiệp định Pari:

    - Hoa Kì và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
    - Hai bên ngừng bắn ở miền Nam. Hoa Kì cam kết chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống miền Bắc Việt Nam.
    - Hoa Kì rút hết quân đội của mình và quân các nước đồng minh, cam kết không dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.
    - Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị thông qua tổng tuyển cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài.

    * Ý nghĩa:

    - Hiệp định Pari là thắng lợi của sự kết hợp giữa ĐT quân sự, chính trị, ngoại giao, là kết quả cuộc ĐT kiên cường, bất khuất của quân dân 2 miền, mở ra bước ngoặt mới cho cuộc k/c chống Mĩ cứu nước.
    - Mĩ phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, rút hết quân về nước. Thắng lợi này tạo thời cơ thuận lợi để ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.

    [​IMG]
    Toàn cảnh lễ ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, 27.1.1973 (Ảnh tư liệu)​

    B. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
    1. Phân tích những điểm giống và khác nhau giữa hai chiến lược “CTĐB” và CTCB” của Mĩ ở MN.
    Gợi ý:
    * Giống nhau về hình thức CT và âm mưu, mục đích: đều là hình thức CT xl TD mới của Mĩ nhằm biến MN thành thuộc địa kiểu mới, chống lại CM và ND ta.
    * Khác nhau:
    - Về lực lượng tiến hành:
    + “CT ĐB” được tiến hành bằng quân đội SG (do cố vấn Mĩ chỉ huy).
    + “CTCB” được tiến hành bằng quân Mĩ, quân đồng minh của Mĩ và quân đội SG (vẫn do cố vấn Mĩ chỉ huy).
    - Về thủ đoạn, biện pháp tiến hành:
    + “CT ĐB” được thực hiện với 2 kế hoạch (KH Xtalây – Taylo và KH Giônxơn – Mác Namara) với các biện pháp như: tăng nhanh lực lượng quân đội SG, dồn dân lập “ấp chiến lược”...
    + “CTCB” được thực hiện bằng những cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào các vùng đất do CM nắm giữ (2 cuộc phản công chiến lược trong 2 mùa khô...).
    - Về quy mô, phạm vi chiến tranh:
    + “CT ĐB” chỉ tiến hành ở MN.
    + “CTCB” vừa tiến hành ở MN vừa gây CT phá hoại MB (quy mô lớn hơn).
    - Tính chất ác liệt: “CTCB” ác liệt hơn.
    2. Quân dân MN chiến đấu và chiến thắng “CTCB” của Mĩ như thế nào?
    3. Các thắng lợi quân sự của ta trong cuộc chiến đấu chống “CTCB” của Mĩ.
    4. Phân tích vai trò của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975)
    - Miền Bắc là nơi đứng chân của các cơ quan đầu não, cơ quan chỉ đạo chiến lược, thường xuyên đảm bảo mạch máu giao thông vận tải và mạng lưới thông tin liên lạc, đảm bảo sự chỉ đạo thông suốt tới từng chiến trường. Là nơi tiếp nhận, bảo quản cải tiến và vận chuyển tới chiến trường miền Nam (Shop Kiến Thức .Net) các loại vũ khí và phương tiện vật chất được chi viện từ hậu phương quốc tế.... MB đóng vai trò là hậu phương lớn, thường xuyên đảm bảo cung cấp nguồn nhân vật lực cho tiền tuyến MN. Người và của ở MB không ngừng tuôn vào MN với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến. Tất cả để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”….
    - Không những thế, MB còn hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ quốc tế đối với Lào và Campuchia.
    - Không chỉ là hậu phương lớn, MB còn là chiến trường đánh Mĩ, đánh bại 2 lần CT phá hoại của Mĩ, góp phần cùng MN đánh bại các loại hình chiến lược chiến tranh của Mĩ ở MN, bảo vệ vững chắc công cuộc xây dựng CNXH ở MB.
    - Miền Bắc còn là chỗ dựa, là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần to lớn đối với quân và dân ta ở miền Nam.
    - Miền Bắc đã dốc vào cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước toàn bộ sức mạnh vật chất và tinh thần, xứng đáng với vai trò quyết định nhất trong sự nghiệp chống Mĩ cứu nước.

    5. Âm mưu và thủ đoạn của Mĩ trong việc thực hiện “VN hóa CT” và “Đông Dương hóa CT” (1969 - 1973). So sánh với “CT đặc biệt” và “CT cục bộ”.

    6. Những thắng lợi chung của ba nước VN, Lào, CPC trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao trong chiến đấu chống “VN hóa CT” và Đông Dương hóa CT” (1969 - 1973).