Ôn tập tác phẩm "Việt Bắc" - Tố Hữu

Chuyên mục 'Tác giả - Tác phẩm văn học 12' bởi butchimau, 7 Tháng một 2017.

  1. VIỆT BẮC ( Tố Hữu )
    1. Thể thơ : truyền thống của dân tộc: lục bát, gồm 150 câu.

    2. Hoàn cảnh sáng tác:

    - Việt Bắc là khu căn cứ của cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.
    - Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi . Tháng 7 / 1954 , hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết . Hòa bình lập lại , miền Bắc được giải phóng và đi lên xây dựng CNXH một trang sử mới của đất nước mở ra.
    - Tháng 10/ 1954 , TW Đảng và Chính phủ rời Việt Bắc về Hà Nội , những người kháng chiến ( trong đó có Tác giả Tố Hữu ) từ căn cứ miền núi về miền xuôi chia tay Việt Bắc , chia tay khu căn cứ Cách mạng trong kháng chiến.
    Nhân sự kiện có tính lịch sử này Tố Hữu sáng tác bài thơ “ Việt Bắc “ Bài thơ “ Việt Bắc “ là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp.

    [​IMG]
    3. Nội dung chính :
    - Tái hiện những kỉ niệm Cách mạng, kháng chiến Khẳng định, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp.
    + Thiên nhiên Việt Bắc vừa nên thơ, trữ tình vừa hùng vĩ, tráng lệ.
    + Con người Việt Bắc hăng say lao động, sâu nặng ân tình với cách mạng, kháng chiến.
    - Gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước, ca ngợi công lao của Đảng và Bác Hồ trong kháng chiến chống Pháp.
    - Thể hiện tình cảm của Tố Hữu đối với quê hương Cách mạng Việt Bắc : yêu mến, gắn bó, tự hào về truyền thống cao đẹp của dân tộc, đất nước.
    Việt Bắc là khúc hùng ca, tình ca về Cách mạng , về kháng chiến , về những con người trong kháng chiến chống Pháp.

    a. Đoạn 1: Cảnh chia tay giữa những người Việt Bắc và cán bộ kháng chiến
    Mình về mình có nhớ ta...............Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
    * Bốn câu thơ mở đầu là lời người Việt Bắc:
    - Đoạn thơ thể hiện rõ tình cảm của “ta” khi đưa tiễn.Người Việt Bắc hỏi người cách mạng về xuôi:
    Mình về mình có nhớ ta .....Mình về mình có nhớ không
    - “Ta” ở đây là người Việt Bắc ( người ở lại) , có thể là cô gái Việt Bắc , có thể là đồng bào Việt Bắc’ “ mình “ ở đây là người cán bộ Cách mạng , là anh bộ đội cụ Hồ.
    - Bốn câu thơ mở đầu cất lên thật tha thiết bồi hồi , cảm xúc được nén lại trong lòng bỗng ùa dậy và trào lên. “Ta” hỏi “mình” hay ta đang hỏi lòng ta trong buổi phân li ấy. Lời hỏi da diết của người Việt Bắc gợi lại trong lòng người ở , người đi kỉ niệm 15 năm gắn bó. Tình nghĩa giữa “ta” với “ mình” không phải là ngày một ngày hai mà đã giao hòa , gắn kết “ thiết tha”, “mặn nồng” trong suốt 15 năm trời kể từ ngày khởi nghĩa Bắc Sơn (năm 1940 )đến ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng(năm 1954).
    - Lời hỏi tha thiết của người Việt Bắc cũng chính là lời gợi nhớ những kỉ niệm giữa Việt Bắc và người Cách mạng trong 15 năm qua. 15 năm trong kháng chiến nhiều gian lao , vất vả càng sâu nặng ân tình.
    - Người Việt Bắc hỏi người Cách mạng về như thế có nhớ ta không nhưng thực chất người Việt Bắc đang thể hiện tình cảm của mình khi chia tay người cách mạng. Người cách mạng chưa đi thì người Việt Bắc đã nhớ:
    Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn?
    Kỉ niệm trong 15 năm không ít , giờ chia xa người Cách mạng người Việt Bắc nhìn cảnh mà nhớ người xưa. Cảnh còn đấy nhưng người đã đi xa, người cách mạng phải về xuôi theo yêu cầu của nhiệm vụ , người ở lại nhớ nhung tha thiết,...
    Câu hỏi tu từ của người Việt Bắc khi đưa tiễn người cách mạng mở ra một chân trời thương nhớ. Cảm xúc nhớ nhung da diết ấy chính là biểu hiện của tình cảm sâu nặng mà người Việt bắc dành cho người Cách mạng.
    * Bốn câu thơ tiếp theo gợi tả không gian nghệ thuật, tâm trạng của người đi kẻ ở trong buổi chia tay.
    - Tiếng hát của ai tha thiết cất lên bên cồn hay chính tiếng lòng tha thiết của người Việt Bắc làm cho người ra đi thật sự xúc động.
    Tiếng ai tha thiết bên cồn
    Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
    Tố Hữu thật tài tình, khéo léo khi sử dụng hai từ láy diễn tả tâm trạng trong một câu thơ : bâng khuâng, bồn chồn. Tình cảm của người Cách mạng và người Việt Bắc trong 15 năm kháng chiến thật sâu sắc, vì thế khi chia tay càng bịn rịn, luyến lưu. Người cách mạng phải về xuôi vì nhiệm vụ mới khi cuộc chiến kết thúc, nhưng chia tay Việt Bắc sao mà khó đến thế!Chân bước đi mà lòng không muốn đi.
    - Cảnh chia tay giữa người Việt Bắc và người Cách mạng được tác giả tái hiện lại thật xúc động qua hai câu Áo chàm đưa buổi phân li...
    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...
    Áo chàm là hình ảnh hoán dụ , chỉ người Việt Bắc. “Áo chàm đưa buổi phân li” là người Việt Bắc đi đưa tiễn người cách mạng. Trong giờ khắc chia ta đầy lưu luyến, bịn rịn , tấm chân tình của kẻ ở người đi gửi qua cái bắt tay , bắt tay để chia tay. Họ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...” , họ không biết nói gì không phải không có gì để nói , phải chăng điều muốn nói quá nhiều, kỉ niệm quá nhiều, ân tình sâu sắc quá nên không thể nào nói hết, diễn tả hết.Vì thế mà họ chỉ biết gửi tất cả qua cái bắt tay mà lòng nghẹn ngào.
    Cảnh chia tay thật bịn rịn, lưu luyến thể hiện tình cảm sâu nặng giữa người cách mạng và người Việt Bắc.
    - Đoạn thơ còn là thành công của tác giả ở nghệ thuật thể hiện:
    + Thể thơ lục bát của dân tộc rất phù hợp với việc diễn tả tình cảm .
    + Lời thơ là lời hỏi – gợi nhớ với giọng điệu tha thiết , tâm tình.
    + Cách xưng hô ta – mình thân thiết, gần gũi , đậm phong vị ca dao.
    + Điệp từ “ nhớ” nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ thể hiện tình cảm sâu nặng.
    Đoạn thơ mở đầu là cảnh chia tay thật bịn rịn , lưu luyến giữa người Việt Bắc và người cách mạng . Cái tài của Tố Hữu là chuyện ân tình cách mạng được tác giả khéo léo thể hiện như chuyện tình cảm lứa đôi. Chính vì thế mà thơ Tố Hữu là thơ chính trị nhưng rất đỗi trữ tình, đi sâu vào lòng người.
    Đoạn thơ chỉ có tám câu ngắn gọn nhưng mở ra một trời thương nhớ, một ân tình sâu nặng giữa những người Cách mạng và quê hương cách mạng trong kháng chiến chống Pháp.

    b. Đoạn 2 : Lời người Việt Bắc hỏi người cách mạng về xuôi


    Mình đi có nhớ những ngày........Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
    - Người cách mạng và người Việt Bắc từng “đồng cam cộng khổ” trong suốt 15 năm kháng chiến, chia tay người Cách mạng người Việt Bắc bịn rịn, lưu luyến . Người Việt Bắc hỏi người Cách mạng “ Mình đi có nhớ ...” , “ Mình về có nhớ ... . Điệp ngữ “ có nhớ” láy lại 5 lần ở các câu lục tạo nên cảm giác bâng khuâng, bồn chồn, tha thiết.
    - Mỗi lời hỏi của người Việt Bắc là lời gợi nhớ những kỉ niệm trong kháng chiến chống Pháp nên đoạn thơ đầy ắp những kỉ niệm về Việt Bắc: mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù , miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai, trám bùi , măng mai,...
    Mình đi có nhớ những ngày.............Trám bùi để rụng măng mai để già
    + Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù – những ngày tháng gian nan ,thử thách nơi núi rừng Việt Bắc .
    + Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai - cuộc sống trong kháng chiến thiếu thốn , khổ cực nhưng quân dân Việt Bắc cùng chung mối thù với giặc Pháp nên họ “ đồng cam cộng khổ “ kháng chiến.
    + Trám bùi để rụng, măng mai để già – Trám bùi, măng mai là nguồn thức ăn vô tận của Việt Bắc để nuôi bộ đội đánh giặc trong những ngày gian khổ . Hương vị núi rừng ấy tượng trưng cho Việt Bắc sâu nặng ân tình. Người Cách Mạng về xuôi rồi thì trám không ai hái, măng không ai bẻ nên trám rụng, măng già. “Mình” về xuôi để lại bao thương nhớ cho” ta “, cho cỏ cây, cho núi rừng Việt Bắc. “ Rừng núi” , “ trám “ ,” măng” được nhân hóa mang bao nỗi nhớ, bao nỗi buồn thương. Cảnh vật như hòa lệ , các chữ “rụng”, “già” gợi nhiều man mác, bơ vơ.
    - Con người Việt Bắc sâu nặng ân tình , làm sao có thể quên được :
    Mình đi có nhớ những nhà.Hắt hiu lau xám,đậm đà lòng son
    “ Những nhà” là tất cả đồng bào dân tộc Việt Bắc . “ Hắt hiu lau xám” là cảnh hoang vu, vắng lặng của núi rừng gợi cuộc sống còn nghèo đói, thiếu thốn về vật chất. Tương phản với “Hắt hiu lau xám” là “ đậm đà lòng son”, “ đậm đà lòng son” là hình ảnh ẩn dụ rất đẹp ca ngợi tấm lòng thủy chung , son sắt của người Việt Bắc đối với Cách mạng, kháng chiến.
    Tố Hữu đã sáng tạo ra những hình ảnh tượng trưng, tương phản lau xám - lòng son nhằm ngợi ca đồng bào Việt Bắc: tuy nghèo khổ, thiếu thốn nhưng tình yêu nước, cách mạng vẫn thủy chung son sắt, vẫn đậm đà. Đây cũng chính là vần thơ đẹp nhất, cảm động nhất nói về nỗi nhớ, lòng biết ơn và lòng tự hào đối với Việt Bắc.
    - Việt Bắc là đầu nguồn, là cái nôi của cách mạng, kháng chiến , là căn cứ địa của Việt Minh thời chống Nhật ; Tân Trào là nơi đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân làm lễ xuất kích ( 12/1944); mái đình Hồng Thái là nơi họp Quốc dân đại hội ( 8/1945). Việt Bắc là chiến khu bất khả xâm phạm, là thủ đô gió ngàn nên không dễ ai quên Những địa danh lịch sử, núi non, mái đình, cây đa,...đã trở thành kỉ niệm sâu sắc trong lòng kẻ ở người về
    “ Mười lăm năm ấy ai quên. Quê hương Cách mạng dựng nên cộng hòa”
    - Đoạn thơ còn là thành công của tác giả ở nghệ thuật thể hiện:
    + Thể thơ lục bát của dân tộc rất phù hợp với việc diễn tả tình cảm .
    + Lời thơ là lời hỏi – gợi nhớ với giọng điệu tha thiết , tâm tình.
    + Cách xưng hô mình – mình thân thiết, gần gũi , đậm phong vị ca dao.
    + Điệp ngữ “ có nhớ” nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ thể hiện tình cảm sâu nặng.
    Nghệ thuật thể hiện đậm tính dân tộc.
    - Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, Tố Hữu đã sống và hoạt động tại Việt Bắc cùng đồng đội, đồng bào; trải qua những tháng ngày gian khổ nhưng hào hùng, vinh quang. Tình cảm thiết tha sâu nặng của kẻ ở người đi làm cho buổi tiễn đưa thêm bịn rịn, luyến lưu.
    Đoạn thơ là lời tiễn đưa người cách mạng của người Việt Bắc , đoạn thơ đầy ắp những kỉ niệm về Việt Bắc thể hiện ân tình sâu nặng giữa Việt Bắc và Cách mạng. Đoạn thơ còn là lời ngợi ca quê hương Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp và tình cảm yêu mến, biết ơn, tự hào về Việt Bắc của tác giả Tố Hữu.

    c. Đoạn 3 : Nhớ cảnh thiên thiên và con người Việt Bắc trong kháng chiến

    Ta về, mình có nhớ ta
    Ta về ta nhớ những hoa cùng người...........Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
    *Hai câu thơ đầu là lời hỏi – đáp của ta, của người cán bộ kháng chiến về xuôi , ta hỏi mình có nhớ ta . Người cách mạng về xuôi hỏi người Việt Bắc để bộc bạch tâm trạng của mình là dù về xuôi, dù xa cách nhưng lòng ta vẫn gắn bó thiết tha với Việt Bắc “Ta về ta nhớ những hoa cùng người” .
    Chữ “ta”, chữ “ nhớ” được điệp lại thể hiện tấm lòng thủy chung son sắt , nỗi nhớ ấy hướng về “ những hoa cùng người”, hướng về thiên nhiên núi rừng và con người Việt Bắc.
    * Tám câu thơ tiếp theo , mỗi cặp lục bát nói lên một nỗi nhớ cụ thể về cảnh sắc, con người Việt Bắc trong bốn mùa đông , xuân, hè, thu.
    - Nhớ mùa đông Việt Bắc:
    “ Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
    - Nhớ mùa đông là nhớ màu xanh của núi rừng Việt Bắc, nhớ màu đỏ của hoa chuối như những ngọn lửa thắp sáng rừng xanh , sắc đỏ tươi của hoa chuối giữa sắc xanh của núi rừng làm cho núi rừng Việt Bắc mùa đông không lạnh lẽo , không úa tàn mà ấm áp , tươi tắn vô cùng. Cái tài của Tố Hữu là sử dụng gam màu nóng để vẽ bức tranh thiên nhiên Việt Bắc mùa đông thật đẹp và không thể quên.
    - Nhớ mùa đông Việt Bắc còn nhớ người đi nương rẫy “ dao gài thắt lưng” trong tư thế mạnh mẽ hào hùng đứng trên đèo cao “nắng ánh “, con dao của người đi nương rẫy phản quang rất gợi cảm.
    Màu “xanh” của rừng, màu “đỏ” của hoa chuối, màu sáng lấp lánh của “ nắng ánh” từ con dao , màu sắc hòa hợp làm bật sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Con người Việt Bắc trong tư thế làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời trong kháng chiến.
    - Nhớ ngày xuân Việt Bắc:
    Ngày xuân mơ nở trắng rừng
    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
    - Nhớ ngày xuân Việt Bắc là nhớ hoa mơ “nở trắng rừng”, câu thơ miêu tả độc đáo của tác giả gợi một thế giới hoa mơ bao phủ mọi cánh rừng Việt Bắc , sắc trắng tinh thiết của hoa mơ mở ra một không gian bao la, thoáng mát và tràn đầy sức sống. Cách dùng từ tài hoa của Tố Hữu gợi nhớ câu thơ tả mùa xuân khá độc đáo của đại thi hào Nguyễn Du:
    “ Cỏ non xanh tận chân trời
    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
    - Nhớ người thợ thủ công cần mẫn, khéo léo “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” . “ Chuốt “ là làm bóng sợi giang mỏng manh .Có khéo léo, cần mẫn, tỉ mỉ thì mới có thể “ chuốt từng sợi giang” để đan thành những chiếc nón , chiếc mũ phục vụ kháng chiến , để anh bộ đội đi chiến dịch có “ ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”. Người đan nón được nhà thơ nói đến tiêu biểu cho vẻ đẹp tài hoa , sáng tạo của đồng bào Việt Bắc.
    - Nhớ mùa hè Việt Bắc : Nhớ mùa hè Việt Bắc với tiếng ve kêu làm nên khúc nhạc rừng, nhớ màu vàng của rừng phách , nhớ cô thiếu nữ đi hái măng một mình,...
    Ve kêu rừng phách đổ vàng
    Nhớ cô em gái hái măng một mình
    - Một chữ “ đổ “ tài tình, tiếng ve kêu như trút xuống , “đổ” xuống thúc giục ngày hè trôi nhanh , làm cho rừng phách thêm vàng thiên nhiên Việt Bắc ngày hè thật tươi đẹp, sinh động .
    - Nhớ con người Việt Bắc , nhớ cô gái đi hái măng một mình “Nhớ cô em gái hái măng một mình” Câu thơ độc đáo, giàu vần điệu, thanh điệu , giàu chất nhạc, chất thơ tạo một không gian nghệ thuật đẹp và vui , đầy màu sắc và âm thanh. Cô gái đi hái măng một mình nhưng vẫn không lẻ loi bởi cô gái ấy đang lao động giữa khúc nhạc rừng, hái măng để góp phần nuôi quân phục vụ kháng chiến. Hình ảnh cô gái hái mămg gợi nét đẹp trẻ trung, yêu đời và hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến của con người Việt Bắc.
    - Nhớ mùa thu Việt Bắc : Nhớ mùa hè rồi nhớ mùa thu Việt Bắc , nhớ khôn nguôi ánh trăng ngà , tiếng hát ,....
    Rừng thu răng rọi hòa bình
    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
    - Trăng Việt Bắc trong thơ Bác Hồ là “ Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”. Trăng Việt Bắc trong thơ Tố Hữu là “ trăng rọi hòa bình”. Người Cách mạng về xuôi nhớ trăng Việt Bắc giữa rừng thu, trăng rọi qua tán lá rừng xanh, trăng dịu mát nên thơ, trữ tình ,... khiến lòng người ngây ngất.
    - Nhớ người Việt Bắc : “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” . “ Ai” là đại từ nhân xưng phiếm chỉ, “ nhớ ai” là nhớ về tất cả , về người dân Việt Bắc giàu tình nghĩa thủy chung đã hy sinh quên mình cho cách mạng, cho kháng chiến.
    Đoạn thơ mang vẻ đẹp của một bức tranh tứ bình đặc sắc, đậm đà phong cách dân tộc. Mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp là mùa đông năm 1946, đến mùa thu tháng 10 năm 1954 thủ đô Hà nội được giải phóng. Tố Hữu thể hiện nỗi nhớ Việt Bắc qua bốn mùa đông – xuân- hè – thu theo dòng chảy lịch sử . Mỗi mùa ở Việt Bắc có một nét đẹp riêng dạt dào sức sống : màu xanh của rừng, màu đỏ tươi của hoa chuối, màu trắng của hoa mơ, màu vàng của rừng phách, màu trăng xanh hòa bình . Thiên nhiên Việt Bắc thật nên thơ, hữu tình và mang màu sắc cổ điển qua nét bút tài hoa của Tố Hữu. Con người Việt Bắc được tác giả nhắc đến không phải là ngư, tiều, canh, mục mà là người đi nương rẫy, người đan nón, người đi hái măng ,… Đó là những con người Việt Bắc toả sáng nét đẹp cao quý trong lao động và kháng chiến: cần cù, làm chủ thiên nhiên và làm chủ cuộc đời trong lao động, khéo léo, tài hoa, trẻ trung, yêu đời,… và hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến.
    * Đoạn thơ là thành công của tác giả ở nghệ thuật thể hiện:
    + Thể thơ lục bát của dân tộc
    + Lời thơ là lời hỏi – gợi nhớ với giọng điệu ngọt ngào , tha thiết , tâm tình.
    + Cách xưng hô ta – mình thân thiết, gần gũi , đậm phong vị ca dao.
    + Điệp từ “ nhớ “ nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ thể hiện tình cảm sâu nặng.
    + Bút pháp miêu tả đặc sắc: kết hợp hình ảnh, màu sắc, âm thanh ,…
    + Câu trúc đoạn thơ cân xứng hài hòa: một câu tả cảnh, một câu tả người và cả đoạn thơ là bức tranh về thiên nhiên và con người Việt Bắc.
    Đoạn thơ dạt dào tình thương mến , nỗi thiết tha bổi hồi như thấm sâu vào cảnh và người , kẻ ở người về thì “ mình nhớ ta”, “ta nhớ mình” . Tình cảm ấy vô cùng sâu nặng , biết bao ân tình thủy chung. Năm tháng đi qua nhưng ân tình cách mạng giữa Việt Bắc và người về xuôi vẫn mãi mãi như một dấu son đỏ thắm in đậm trong hồn người.
    Đoạn thơ là lời ngợi ca quê hương Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp. Qua đó thể hiện tình cảm của Tố Hữu với Việt Bắc, với Cách mạng: Yêu mến, tự hào, biết ơn Đoạn thơ gợi lên trong lòng người đọc tình mến yêu Việt Bắc, tự hào về đất nước và con người Việt Nam.

    d. Đoạn 4 : Nhớ Việt Bắc ra trận kháng chiến chống Pháp


    Nhớ khi giặc đến giặc lùng........... Nhớ từ Cao – Lạng , nhớ sang Nhị Hà .
    * Mở đầu đoạn thơ là nỗi nhớ của người cách mạng Nhớ những ngày thực dân Pháp đến quê hương Việt Bắc và Việt Bắc ra trận đánh Tây.
    Nhớ khi giặc đến giặc lùng..........Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
    Với bút pháp nhân hóa Cả Việt Bắc ra trận : “Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây” - Cả Việt Bắc phối hợp tạo nên sức mạnh chống Pháp. Núi biết giăng thành lũy sắt dày để ngăn cản quân thù , để bảo vệ cho quân dân Việt Bắc. Rừng Việt Bắc biết che bộ đội và biết vây bắt quân thù.
    Những câu thơ đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn tái hiện được khí thế ra trận của quân dân Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp.
    Quân dân Việt Bắc ra trận với tinh thần đoàn kết : Mênh mông bốn mặt sương mù
    Đất trời ta cả chiến khu một lòng
    Sức mạnh của tinh thần đoàn kết sẽ làm nên những chiến thắng khải hoàn trong kháng chiến chống Pháp.
    Người cách mạng nhớ những tháng ngày xung trận chống Pháp Nhớ quá khứ hào hùng đáng trân trọng, tự hào của dân tộc.
    Ai về ai có nhớ không?
    Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng.
    Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng.
    Nhớ từ Cao – Lạng , nhớ sang Nhị Hà ...
    * Bốn câu thơ tiếp theo là lời hỏi đáp giữa mình với ta, giữa kẻ ở và người về .
    - Ai về ai có nhớ không ? câu hỏi phiếm chỉ, hình như không hỏi riêng một người nào mà hỏi tất cả,hỏi nhà thơ, hỏi người cán bộ cách mạng, hỏi anh bộ đội từng gắn bó với VIệt Bắc trong kháng chiến chống Pháp. Một câu hỏi gợi nhiều lưu luyến bâng khuâng, đậm đà nghĩa tình giữa người đi người ở.
    - Sau câu hỏi “ Ai về ai có nhớ không?” là câu trả lời “ Ta về ta nhớ …” Nỗi nhớ tha thiết của người về xuôi khi chia xa Việt Bắc:
    Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng.
    Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng.
    Nhớ từ Cao – Lạng , nhớ sang Nhị Hà ...
    Chỉ một chữ “ nhớ” trong câu hỏi mà có đến năm chữ “ nhớ” thiết tha trả lời. Nỗi nhớ bao trùm tất cả, nhớ đèo, nhớ sông, nhớ phố, nhớ những trận đánh đẫm máu , nhớ những chiến công oai hùng một thời oanh liệt. Nhớ Phủ Thông, đèo Giàng với lưỡi mác và ngọn giáo , anh bộ đội cụ Hồ trong tư thế dũng sĩ lẫm liệt đã làm cho giặc Pháp bạt vía kinh hồn. “ Nhớ sông Lô” là nhớ chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947 , tàu giặc Pháp bị đắm sông Lô. “ Nhớ phố Ràng” là nhớ trận chiến có pháo binh tham gia vào cuối năm 1949 , đánh dấu bước trưởng thành trong khói lửa của quân đội ta để từ đó tiến lên đánh lớn và thắng lớn trong chiến dịch Biên giới giải phóng Cao Bằng, Lạng Sơn: “ Nhớ từ Cao Lạng nhớ sang Nhị Hà…”. “Nhớ từ” …nhớ sang” gợi nỗi nhớ dạt dào, mênh mông, da diết,…
    Đoạn thơ với hàng loạt các địa danh cụ thể của Việt Bắc như những trang kí sự chiến trường nối tiếp xuất hiện để lại bao tự hào trong lòng người đọc . Có biết bao máu đổ xương rơi , biết bao anh hùng ngã xuống mới có thể đưa tên núi , tên sông, tên đèo nơi Việt Bắc vào lịch sử, vào thơ ca và tạc vào lòng dân tộc nỗi nhớ mênh mang ấy.
    Đoạn thơ là thành công của tác giả ở nghệ thuật thể hiện:
    + Thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc.
    + Điệp từ “ nhớ” và liệt kê hàng loạt các trận đánh lớn của Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp.
    Đoạn thơ là nỗi nhớ Việt Bắc trong những trận đánh lớn và thắng lớn. Lời ngợi ca Việt Bắc anh hùng trong kháng chiến và niềm tự hào của tác giả, của người cách mạng về quê hương cách mạng.

    e. Đoạn 5 :Nhớ Việt Bắc ra trận kháng chiến và chiến thắng.


    Những đường Việt Bắc của ta............Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
    Bao trùm đoạn thơ là những nỗi nhớ với tất cả niềm tự hào, nhớ những con đường chiến dịch, nhớ đoàn quân, nhớ dân công,…, nhớ chiến dịch, nhớ đèn pha ra trận,…Qua đó tác giả ngợi ca sức sống mãnh liệt của đất nước , con người Việt Nam trong máu lửa chiến tranh.
    * Tám câu thơ tiếp theo tái hiện lại con đường Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp với những nẻo đừơng hành quân, nẻo đường chiến dịch,…
    - Các từ láy “ đêm đêm”, “rầm rập”, “điệp điệp”, “ trùng trùng” cùng lối so sánh “ như là đất rung “ đã gợi tả thật hay, thật hào hùng âm vang cuộc kháng chiến thần thánh và sức mạnh nhân nghĩa 4000 năm của dân tộc. Khí thế chiến đấu thần kì của quân dân Việt Bắc làm rung đất chuyển trời mà không một thế lực tàn bạo nào có thể ngăn cản được.
    - Cả dân tộc ra trận chống Pháp với sức mạnh không gì ngăn được:
    Quân đi điệp điệp trùng trùng........Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
    Những câu thơ đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn tái hiện lại khí thế kháng chiến, ra trận của quân ta. Đoàn quân ra trận đông đảo , người người lớp lớp như sóng cuộn “ điệp điệp trùng trùng” .
    + Câu thơ “ Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” là một tứ thơ sáng tạo, vừa thực vừa ảo . “ Ánh sao đầu súng” là ánh sao đêm phản chiếu vào nòng súng thép, ánh sao của bầu trời Việt Bắc , ánh sao lí tưởng chiến đấu vì độc lập tự do như soi sáng nẻo đường hành quân ra trận cho anh bộ đội cụ Hồ.
    + Tác giả thành công ở bút pháp cường điệu trong câu “ Bước chân nát đá …” , bút pháp cường điệu tạo nên âm điệu anh hùng ca , gợi tả sức mạnh Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Quân ta càng đánh càng mạnh, càng mạnh thì càng thắng lớn.
    - Những năm đầu kháng chiến , quân và dân ta chỉ có ngọn tầm vông, giáo mác,vũ khí thô sơ. Ta càng đánh càng mạnh,lực lượng kháng chiến ngày thêm hùng hậu . Quân đội ta đã phát triển thành những binh đoàn, có pháo binh, có đoàn xe kéo pháo chở súng đạn, chở binh lương ra tiền tuyến:
    “ Nghìn đêm thăm thẳm sương dày.......Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
    Ngọn đèn pha của đoàn xe kéo pháo , của đoàn xe vận tải “ bật sáng” phá tan những lớp sương dày , đẩy lùi những thiếu thốn, khó khăn, soi sáng con đường kháng chiến để “ ngày mai lên”. Hình ảnh thơ mang ý nghĩa tượng trưng cho một tương lai tưoi sáng của đất nước Con đường Việt Bắc, con đường ra trận đầy máu lửa và chiến công và đó cũng là con đường đi tới ngày mai huy hoàng tráng lệ của đất nước, của dân tộc.
    * Bốn câu thơ cuối đoạn thể hiện niềm vui chiến thắng lớn của quân dân Việt Bắc, của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.
    Tin vui chiến thắng trăm miền...........Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
    - Một lần nữa Tố Hữu gọi tên các địa danh “ chiến thắng trăm miền” trên đất nước thân yêu : Hòa Bình, Tây Bắc , Điện Biên, Đồng Tháp,…Mỗi địa danh ghi lại một chiến công.Tác giả gọi tên địa danh với niềm hân hoan , tự hào chiến thắng.
    - Cách nói của tác giả khá độc đáo , khá hay : “ Tin vui…vui về …vui từ …vui lên”. Chiến thắng không phải chỉ một vài nơi rời rạc mà trăm miền, điệp từ “ vui” diễn tả niềm vui lớn, tiếng reo mừng chiến thắng cất lên từ trái tim của hàng triệu con người Việt Nam từ Bắc chí Nam.
    * Đoạn thơ là thành công của Tố Hữu ở nghệ thuật thể hiện:
    + Thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc.
    + Sử dụng từ ngữ và các phép điệp tạo giọng điệu mạnh mẽ, mang âm điệu anh hùng ca.
    + Đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
    Nghệ thuật thể hiện đậm tính dân tộc.
    Đây là đoạn thơ hay và đẹp trong bài thơ “ Việt Bắc”. Đoạn thơ vang lên như một khúc ca thắng trận của quân dân Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp Khẳng định, ngợi ca, tự hào về quê hưong Việt Bắc “ Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa” . Đoạn thơ tỏa sáng hồn ta ngọn lửa Điện Biên thần kì và chấn động lòng ta nỗi nhớ vè một tình yêu lớn – yêu Việt Bắc, yêu Cách mạng và yêu quê hương đất nước Việt Nam.
    Đoạn thơ thể hiện sự gắn bó ân tình sâu nặng của Tố Hữu với Việt Bắc, với Cách mạng .

    g. Đoạn 6 :Lời người cách mạng về xuôi – nhớ quê hương Việt Bắc


    Ta với mình,mình với ta.....
    Chày đêm nện cối đều đều suối xa
    * Trước những câu hỏi chân tình , tha thiết của Việt Bắc , người về xuôi đáp lại những câu cũng chí tình: Ta với mình,mình với ta
    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
    Mình đi mình lại nhớ mình
    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu...
    - Xưng hô : ta – mình , mình – mình Xưng hô càng lúc càng gần gũi, thân mật và đậm phong vị ca dao.
    - Lời thơ là lời khẳng định, người về xuôi khẳng định “Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh”
    Khẳng định tình cảm của người cách mạng đối với Việt Bắc không thay đổi, trước sau vẫn như một. Ân tình sâu nặng giữa người Cách mạng và việt Bắc trong 15 năm qua như thế nào thì sau này vẫn thế Tấm lòng thủy chung son sắt của người Cách mạng đối với Việt Bắc.
    - Người cách mạng trực tiếp bộc lộ tình cảm của mình khi chia xa :
    Mình đi mình lại nhớ mình
    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu...
    Khẳng định “ mình” đi “ mình” lại nhớ “mình” nghĩa là người cách mạng về xuôi nhớ người Việt Bắc tha thiết . Làm sao không nhớ khi ân tình giữa họ như nước trong nguồn không bao giờ cạn. Cách so sánh khéo léo của tác giả nhằm diễn tả ân tình không bao giờ phai nhạt giữa người cách mạng và người Việt Bắc.
    * Để xua tan những hoài nghi của người ở lại , người về xuôi phải nói những lời nồng thắm thể hiện qua nỗi nhớ :
    @ Nhớ thiên nhiên Việt Bắc:
    Nhớ gì như nhớ người yêu
    Trăng lên đầu núi ,nắng chiều lưng nương
    Cách so sánh khá độc đáo, nhớ hình ảnh “ trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” da diết, tha thiết và nồng cháy như “ nhớ người yêu”. Tác giả thể hiện nỗi nhớ thiên nhiên nên thơ, trữ tình của Việt Bắc như nhớ một con người và đó là người yêu – tình yêu. Cái tài hoa của tác giả là diễn tả nỗi nhớ thiên nhiên Việt Bắc của người ra đi như nỗi nhớ trong tình cảm cao quý nhất của con người.
    - Nhớ thiên nhiên Việt Bắc còn nhớ rừng núi, sông ngòi,..
    Nhớ từng rừng nứa bờ tre
    Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
    “ nhớ từng” gợi nỗi nhớ cụ thể về cảnh vật Việt Bắc . Phải có tình cảm gắn bó với thiên nhiên Việt Bắc tác giả mới có kí ức về thiên nhiên sâu sắc như thế : Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
    Nhớ những địa danh cụ thể nơi núi rừng Việt Bắc , nhớ sông suối lúc vơi lúc đầy ,... Nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, nên thơ, trữ tình.
    @ Nhớ con người Việt Bắc:
    Con người Việt Bắc “ đậm đà lòng son” Người về nhớ da diết những con người:
    - Nhớ “ người thương” : Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
    Hình ảnh “người thương” trong nỗi nhớ của người ra đi gắn liền với hình ảnh “ bếp lửa” trong thời gian “ sớm khuya” gợi ta liên tưởng đến những người làm công tác nuôi quân trong những năm kháng chiến. Sự tảo tần, chịu thương chịu khó của “ người thương” làm cho những người Cách mạng dẫu có chia xa cũng không thể nào quên.
    - Nhớ người mẹ dân tộc thiểu số địu con lên rẫy bẻ ngô vào những ngày nắng cháy lưng:
    Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
    Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
    Hình ảnh người mẹ chịu thương chịu khó thật khiến cho người đọc xúc động, dù trời nắng gắt mẹ vẫn địu con lên rẫy bẻ ngô về nuôi bộ đội, phục vụ Cách mạng, kháng chiến Nhớ những con người Việt Bắc giản dị, tình nghĩa, thủy chung với cách mạng, với kháng chiến.
    @ Nhớ cảnh sinh hoạt: - “Nhớ từng bản khói cùng sương”
    + bản bản làng gợi cuộc sống của nhân dân Việt Bắc
    + khói khói bếp , khói bom đạn Cuộc sống người dân Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp .
    + sương hình ảnh thiên nhiên Làm cho núi rừng Việt Bắc thêm thơ mộng, trữ tình.
    Nhớ da diết những bản làng chìm trong sương khói chiến tranh .
    Ta đi ta nhớ những ngày
    Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi...
    Thương nhau chia củ sắn lùi
    Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng
    + Xưng hô : ta – mình thân mật , gần gũi.
    + Người ra đi khẳng định nỗi nhớ của mình: “ Ta đi ta nhớ những ngày” nhớ những ngày tháng cùng nhân dân Việt Bắc kháng chiến chống Pháp. Đó là những ngày không ít gian lao vất vả nhưng sâu năng ân tình , cùng chia ngọt sẻ bùi, cùng chia nhau củ sắn lùi , chia nhau bát cơm và chia nhau hơi ấm ,... Đó là những ngày gian khổ trong kháng chiến nhưng không dễ gì quên, chính trong gian khổ ấy mà tình nghĩa quân dân càng sâu đậm, càng thắm thiết Sức mạnh của kháng chiến để chiến thắng.
    Người ra đi nhớ da diết những ân tình sâu nặng với Việt Bắc trong những năm kháng chiến.
    Nhớ sao lớp học i tờ
    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
    Nhớ kỉ niệm về lớp học xóa mù chữ cho người dân Việt Bắc.
    Nhớ sao ngày tháng cơ quan
    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo
    Nhớ những ngày tháng làm việc ở chiến khu Việt Bắc , tuy nhiều gian nan, vất vả nhưng các chiến sĩ Cách mạng vẫn lạc quan , tin tưởng.
    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
    Chày đêm nện cối đều đều suối xa
    Nhớ những âm thanh quen thuộc của cuộc sống người dân Việt Bắc : tiếng mõ trâu mỗi buổi chiều khi chúng về bản làng, nhịp chày giã gạo bên bờ suối,... âm thanh cuộc sống Việt Bắc ngân vang mãi trong lòng người ra đi.
    + Điệp ngữ “ nhớ sao”có nghĩa là rất nhớ nỗi nhớ da diết không sao diễn tả hết Tác giả gắn bó sâu nặng với Việt Bắc.
    - Đoạn thơ là thành công của tác giả ở nghệ thuật thể hiện:
    + Thể thơ lục bát của dân tộc
    + Lời thơ thể hiện nỗi nhớ và gợi kỉ niệm với giọng điệu ngọt ngào , tha thiết , tâm tình.
    + Cách xưng hô ta – mình thân thiết, gần gũi , đậm phong vị ca dao.
    + Điệp từ “ nhớ “, điệp ngữ “ nhớ sao” nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ.
    Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ da diết của người cách mạng , nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp , thơ mộng, trữ tình; nhớ con người Việt Bắc giản dị, tình nghĩa thủy chung, hết lòng phục vụ Cách mạng , kháng chiến.
    Qua nỗi nhớ của người Cách mạng , quê hương Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp thật đẹp, thật ân tình Tác giả yêu mến, tự hào và gắn bó sâu nặng với Việt Bắc.

    4. Nghệ thuật :

    - Sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc : thơ lục bát.
    - Cách xưng hô ta – mình, mình – mình thân mật, gần gũi, đậm phong vị ca dao.
    - Lối đối đáp trữ tình của ca dao Việt Nam.
    - Giọng thơ tâm tình , ngọt ngào như âm hưởng lời ru.
    - Sử dụng thành công các biện pháp tu từ : so sánh, nhân hóa, cường điệu , điệp,...
    - Sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất giản dị, mộc mạc nhưng sinh động, hấp dẫn.
    - Đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
    Nghệ thuật đậm tính dân tộc.

    Xem thêm
    #Page_Học_Văn_Văn_Học​